DỊCH

Thông tin 2

kho tài nguyên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • VUI MỪNG CHÀO ĐÓN

    0 khách và 0 thành viên

    XEM TRUYỀN HÌNH

    Free Car 8 Cursors at www.totallyfreecursors.com

    sự kiện

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > SÁCH HAY CHO BẠN >

    Phóng sự 1: Khởi nghiệp _(Từ chiến trường khốc liệt_- Peter Arnett - phóng viên Mĩ nổi tiếng chiến trường VietNam )

    Phóng sự 1: Khởi nghiệp _(Từ chiến trường khốc liệt)

     

    Peter Arnett cùng bố Eric, mẹ Jane và bà Kitty

    - Peter Arnett - phóng viên chiến trường nổi tiếng của Hãng thông tấn AP (Mỹ), người đã có 35 năm trong nghề phóng viên quốc tế, là phóng viên phương Tây đầu tiên và duy nhất phỏng vấn trùm khủng bố Osama Biladen, là người từng có mặt tại những cuộc chiến nóng bỏng nhất: từ chiến tranh Việt Nam (1962-1975), cuộc chiến vùng Vịnh, đến chiến trường Baghdad (Iraq), đã tận mắt chứng kiến nhiều sự kiện lớn, có những tin tức, phóng sự nóng hổi gây chấn động dư luận Mỹ và thế giới, và là người đã đoạt giải thưởng báo chí Pulitzer năm 1966.

     

    Sau đây là  cuốn sách: Từ chiến trường khốc liệt (Live from the battlefield) của Peter Arnett do Nhà xuất bản Thông Tấn xuất bản cuối tháng 4-2009.

    Những gì tôi còn nhớ là tờ Soudland Times nằm trên bàn ăn sáng của chúng tôi hàng ngày trừ chủ nhật. Anh trai tôi - John làm phóng viên cho tờ báo đó sau khi tốt nghiệp trung học. Mặc dù cha tôi phàn nàn những tay phóng viên thường chỉ ngồi đâu đó quanh các cuộc gặp gỡ trong thị trấn và nhậu nhẹt quá nhiều, nhưng ông đã gọi điện cho Albie Keast là phóng viên chính của tờ Times nói rằng ông có một đứa con trai nữa cần việc nếu tờ báo có nhu cầu. Mọi sự được sắp xếp và tôi có cuộc hẹn với Tổng biên tập Grimaldi.

    Tôi bắt đầu làm việc vào ngày 7-1-1951, tôi vẫn nhớ rõ cảm giác vui sướng leo lên xe buýt từ Bluff dọc con đường nông thôn lộng gió tới Invercargill nơi có tòa báo. Tôi trải bước trong ánh nắng chan hòa đường Dee, băng qua vòi nước ở tượng đài chiến tranh, qua mái vòm của khu mua sắm tới tòa nhà làm việc ba tầng bằng gạch đỏ và giới thiệu mình với mọi người ở đó.

    Tôi kính trọng người cho tôi công việc đầu tiên nhưng luôn giữ khoảng cách. Khi tôi bắt đầu làm tin, Albie giao thêm cho tôi hàng đống công việc vào cuối ngày khiến tôi phải vật lộn hoàn thành. Tôi thường làm xong việc vào đêm muộn.

     

    Tờ Southland Times trả tôi 30 shilling một tuần. Tuy rất bận rộn nhưng tôi cũng không muốn nghỉ ngơi. Không phải vì Albie Keast làm cho cuộc sống công việc của tôi tồi tệ mà tôi đã cảm nhận báo chí chính là chiếc vé cho tôi đi vòng quanh thế giới và tôi mới chỉ đang ở điểm đầu tiên tại Invercargill. Tôi nộp đơn xin việc ở tờ Standard - tờ báo tuần của phong trào công đoàn ở Wellington. Tôi được nhận công việc đó vì là người duy nhất nộp đơn. Albie Keast là sự may mắn cho những người chủ tương lai của tôi. Chưa ai từng cho tôi những mệnh lệnh hà khắc hơn ông ta, và tôi biết ơn vì điều đó.

    Tờ Standard nằm trong tòa nhà năm tầng ở trung tâm Wellington. Tay biên tập viên có dáng người mảnh khảnh Sid Pickering khá thân thiện và ba hoa. Ông ta dành cho tôi phòng làm việc riêng có điện thoại, gần phòng làm việc của Phó Tổng biên tập.

    Tháng 1-1956, tôi có chuyến đi hai tuần hàng năm tới vùng Waiouru hoang vắng ở trung tâm đảo phía Bắc. Tập huấn quân sự là điều bắt buộc với tất cả thanh niên trẻ. Tôi ở trong đội pháo, được trang bị những vũ khí bằng sắt han rỉ thường không nổ và tôi rất sợ nếu đi vào chiến trường với chúng. Nhóm chúng tôi tập hợp tại lều cắm trại ở Baggush, cách sa mạc tám dặm. Chúng tôi ở lại vùng đồi gập ghềnh gió và bụi trong hai tuần. Một nhóm những người hướng dẫn quân sự cố gắng xóa đi những khoảnh khắc thờ ơ của chúng tôi nhưng không thành, thậm chí họ dọa chúng tôi có thể chứng kiến chiến sự ở Malaysia, nơi người Anh đang đàn áp các cuộc nổi dậy của những người cộng sản. Tôi thề rằng không bao giờ tham gia chiến tranh vì bất kỳ lý do gì bởi tôi nghĩ quân đội là trò vớ vẩn. Khi tôi về Wellington, thiếu tá Healey gọi cho tôi từ văn phòng quan hệ công chúng quân sự cảnh báo rằng bất kỳ câu chuyện không rõ ràng nào đều là "vi phạm bí mật quân sự" và tôi sẽ bị truy tố theo Luật Thông tin bí mật. Tôi cảm thấy buộc phải thỏa hiệp với quân đội và chán tờ Standard. Vào giữa mùa đông năm 1956 tôi rời tờ báo và bắt đầu một hành trình mới ở Australia.

     

    Con tàu MV Wanganella cập bến Sydney ngày 16-7-1956, muộn 11 tiếng so với hành trình vì gió phương Nam thổi tạt. Tôi đi bộ qua năm dãy phố tới văn phòng của tờ Sydney Sun trên đường Broadway giống các con đường có những tòa nhà cao chọc trời đầu tiên tôi nhìn thấy trong đời. Không có gì để mất, tôi nói thẳng với thư ký tòa soạn tôi muốn có một công việc. Người biên tập không rỗi nên tôi phải chờ phỏng vấn ở góc phòng tin nơi trú ngụ cho cả tờ Southland Times, gồm cả bộ phận in. Văn phòng của tờ Sun trải dài một tầng tòa nhà, ngăn bằng kính giữa phòng quản lý và dãy bàn làm việc cho phóng viên và biên tập, nơi họ đang bận rộn chuẩn bị tài liệu cho tuần báo sắp ra. Mệnh lệnh thét ra hòa lẫn tiếng ồn của máy telex kêu lách cách cùng tiếng chuông điện thoại reo.

    Tôi được tuyển ngay lập tức với mức lương 6 bảng Úc 1 ngày. Sau đó, tôi được một nhà kinh doanh bắt đầu gây dựng tờ báo truyền hình hàng tuần thuê. Tờ tạp chí Truyền hình Sydney gồm các chương trình truyền hình cho trẻ con và những bài phỏng vấn dài về các ngôi sao.

     

    Tháng 3-1958, tôi lên thuyền tới châu Á. Sự nuôi dưỡng không trang bị cho tôi hành trang cảm nhận về phương Đông, nhất là với một đất nước như Thái Lan, nơi dừng chân đầu tiên của tôi trong hành trình tới châu Á. Nếu như New Zealand là màu xanh xám co thắt chống cái lạnh, bốc hơi ẩm thấp của trái đất và mỡ cừu thì Thái Lan là màu vàng đỏ, là chiếc áo jean thấm đầy mồ hôi, men say của hoa quả chín nẫu và cây dâm bụt hoang dại. Nếu những bữa ăn ở nhà là thịt, rau luộc và bánh mì nướng thì giờ là canh khoai xả "Gang tom", Cà ri cay "gaeng phet", cơm nếp và xoài. Tôi lang thang trên những con đường Bangkok, mê đắm cuộc sống đường phố và mùi cay từ những sào huyệt thuốc phiện hợp pháp, cùng những ngôi chùa tráng lệ giống như cảnh tượng bằng sứ trên dòng sông Chao Phraya.

    Mỗi buổi sáng tôi đều mua tờ Thế giới Bangkok với giá 2 bạt. Tờ báo chỉ có 12 trang, kiểu chữ dày đặc giống như bản in chưa hoàn chỉnh, mực in bám cả vào tay tôi. Tờ Thế giới Bangkok là một trong hai tờ nhật báo bằng tiếng Anh của thành phố phục vụ cộng đồng phương Tây và giới trí thức Thái. Do vậy tôi muốn thử vận may tại đây.

     

    Ông chủ của tờ báo tên là Berrigan nhận tôi vào làm việc với 60 đô la 1 tuần bao gồm việc đặt tiêu đề cho những câu chuyện mua tin, dàn trang và viết bản tin địa phương. Tôi viết những câu chuyện từ người lái xe buýt công cộng còi cọc hàng ngày tới những câu chuyện về các đền thờ hẻo lánh và những thành phố thưa thớt. Tôi viết rất nhiều về các lễ hội ở Bangkok như lễ hội té nước, đua thuyền chuối, lễ hội cày lúa. Tôi tìm kiếm những câu chuyện về văn hóa nông trại, văn hóa ngư nghiệp và các loại văn hóa tôn giáo…

    Khi phóng viên thường trú AP, David Lancashire, đề nghị tôi làm cộng tác vào đầu năm 1959, tôi chộp ngay lấy cơ hội đó, kiếm thêm khoảng 50 đôla một tháng viết những câu chuyện ngắn gọn về kinh tế và chính trị khi anh ta đi khỏi thành phố.

    Tờ Thế giới Bangkok đang thành công và tôi cảm thấy có thể đẩy mình thoát khỏi cám dỗ đầy ma lực của Berrigan. Tôi đang ngẫm nghĩ tới lời đề nghị từ nơi khác lạ hơn, làm chủ bút một tờ báo tuần ở Lào. Chức vụ có vẻ lớn lao nhưng thực chất không hẳn vậy. Tôi sẽ phải đảm đương toàn bộ từ biên tập tới xuất bản.

    Tôi được trả 90 đôla một tháng làm cộng tác viên AP ở Lào, nhưng ngoài ra tôi lặng lẽ thỏa thuận làm thay phóng viên UPI vì anh ta đang ở thăm Bangkok. Tôi cũng thỏa thuận giúp đỡ phóng viên Bruce Russell của Hãng tin Reuters ở Sài Gòn, người đang tìm kiếm vô vọng vị trí thay thế cho một cộng tác viên đã nghỉ việc. Sự kiện "Hoàng tử Đỏ", biệt danh người Mỹ dành cho Suphanuvông trốn thoát đã cho tôi cơ hội làm tin để thể hiện trách nhiệm với AP, UPI và Reuters. Ngày hôm sau, tôi được AP chúc mừng là người đầu tiên trước 8 phút so với tất cả các hãng khác viết về câu chuyện trốn thoát. Tiếp theo là từ UPI phàn nàn tôi chậm trễ có câu chuyện đầu tiên nhưng cung cấp thông tin đầy đủ hơn. Và Reuters cảm ơn tôi đã giúp đỡ họ.

    Tờ Thế giới Viêng Chăn được xuất bản lần đầu tiên vào ngày 9-4-1960. Thế giới Viêng Chăn là cố gắng khiêm tốn nhưng là của tôi. Yêu cầu mỗi tuần lấp đủ 25 chuyên mục với tin tức địa phương ngốn hết sức lực của tôi. Và tôi không có kế hoạch để tờ Thế giới Viêng Chăn liên quan đến các vấn đề xã hội và chính trị lớn lúc đó bởi thực tình tôi không có khả năng cung cấp loại báo chí đó.

    Ngày 8-8-1960, Đại úy Kong Le bất ngờ chỉ huy Tiểu đoàn lính dù 2 quân đội Lào tiến hành cuộc đảo chính tại thủ đô. Tôi viết vội câu chuyện cho AP và chạy tới phòng gửi điện tín. Vô ích. Một xe tăng chắn ở cửa vào tòa nhà và một đội lính đẩy tôi đi với báng súng của họ.

     

    Năm 1961, AP đã thuê tôi trở thành phóng viên thường trú cho họ ở Jakarta, Indonesia. Tôi cố gắng đáp ứng mong đợi của AP ở Indonesia và cách duy nhất tôi biết là nỗ lực hơn bất cứ ai. Trong cuộc chạy đua hàng ngày, tôi tìm kiếm các thông tin từ PIA, Antara - các hãng thông tấn của Chính phủ Indonesia và từ các báo địa phương.

    Sau đó một năm, AP tăng lương cho tôi 50 đô la một tháng. Trong tập san hàng tuần ngày 4-1-1962, tôi được "giới thiệu" với nhân viên còn lại khắp toàn cầu. Tôi vui vì vừa được tăng lương, vừa được ghi nhận.

    Ngày 6-2-1962, tôi viết một bài phân tích tới tất cả các báo thành viên của AP với đoạn văn mở đầu: “Người chống cộng sản cay đắng trở thành người thừa kế tiếp theo của Tổng thống Sukarno và là nhân vật có quyền lực thứ hai ở nước Indonesia xã hội chủ nghĩa bởi vì xung đột West New Guinea. Sukarno đã buộc phải nhường lại quyền lực to lớn của mình cho Bộ trưởng An ninh quốc gia, Tướng Abdul Haris Nasution, để đảm bảo sự hậu thuẫn đầy đủ trong nước cho chiến dịch quân sự chống Hà Lan". Bài viết giống như ngòi nổ với Bộ Ngoại giao của Subandrio, người cũng được xem là người đàn ông của tương lai. Subandrio tức giận gọi tôi trên điện thoại, cao giọng, "Mọi người liên kết vì Irian Barat (West New Guinea) làm sao cậu lại cho chiến dịch được sử dụng với mục đích thăng tiến cá nhân của vài người Indonesia?". Sự tức giận của ông luôn có quyền lực luật pháp.

    Tôi tiếp tục đổ thêm dầu vào lửa khi viết bài phân tích quan trọng từ tập hợp những thông tin chính xác: “Tổng thống Sukarno của Indonesia đã dành quá nhiều tiền bạc và thời gian trong chiến dịch quân sự tại West New Guinea trong khi nạn đói càn quét qua quốc gia lại không được chú ý. Trong nhiều tháng, Sukarno nói với người dân của ông ta rằng chiến dịch quân sự chống lại Hà Lan là ưu tiên hàng đầu dù khó khăn trong nước ra sao".

     

    Hậu quả của bài báo đập lên tôi tơi bời. Tôi bị trục xuất khỏi Indonesia và văn phòng AP tại Jakarta trong tương lai sẽ chỉ được viết những gì lãnh đạo nói công khai.

    Những gì tôi không tính đến là sự giận dữ của một tổ chức tin tức bị khinh miệt. AP bao bọc tôi như một trong những con chiên bị bỏ rơi của chính nó. Chủ tịch AP, Frank Starzel tuyên bố: "Sự thực khi anh ta nói ra điều đó, những bài tin của anh ta là chính xác nhưng chính phủ phẫn nộ với mức độ lan truyền thông tin”.

    Tôi nhận ra rằng nghề nghiệp với AP vẫn còn khi gặp Don Huth ở văn phòng và anh ta nói: "Pedro, cậu nghĩ cậu chịu khó phải không? Tôi vừa có một chỗ cho cậu đấy. Việt Nam!".

    Phạm Hải Chung (dịch)

     

    phóng sự 7: _30-4-1975_(Từ chiến trường khốc liệt_- Peter Arnett - phóng viên Mĩ nổi tiếng chiến trường VietNam )

    Phóngsự6 -Sài Gòn sụp đổ_(Từ chiến trường khốc liệt_- Peter Arnett - phóng viên Mĩ nổi tiếng chiến trường VietNam )

    Phóngsự5-Bắtđầu của kết thúc_(Từ chiến trường khốc liệt_Peter Arnett - phóng viên Mĩ nổi tiếng chiến trường VietNam )

    phóngsự 4 : Ánh sáng ở cuối đường hầm_(Từ chiến trường khốc liệt_Peter Arnett - phóngviên Mĩ nổi tiếng chiến trường VietNam )

    phóng sự 3: Trận đánh đầu tiên_(Từ chiến trường khốc liệt_- Peter Arnett - phóng viên Mĩ nổi tiếng chiến trường VietNam )

    phóng sự 2: Sài Gòn_(Từ chiến trường khốc liệt_- Peter Arnett - phóng viên Mĩ nổi tiếng chiến trường VietNam )

    Phóng sự 1: Khởi nghiệp _(Từ chiến trường khốc liệt_- Peter Arnett - phóng viên Mĩ nổi tiếng chiến trường VietNam ) 

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Văn Tình @ 15:02 02/03/2011
    Số lượt xem: 597
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến