DỊCH

Thông tin 2

kho tài nguyên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • VUI MỪNG CHÀO ĐÓN

    0 khách và 0 thành viên

    XEM TRUYỀN HÌNH

    Free Car 8 Cursors at www.totallyfreecursors.com

    sự kiện

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > TIN TỨC TỔNG HỢP > Bài tin theo chủ đề >

    Nguyên nhân nào thúc đẩy Mỹ tiến hành chiến tranh hóa học ở Việt Nam? (07/08/2012)

    * Kỷ niệm 51 năm Ngày thảm họa da cam ở Việt Nam (10-8-1961 – 10-8-2012).
    Ngay từ xa xưa, việc giết người bằng chất độc đều bị các dân tộc ở các nước trên thế giới đặc biệt căm ghét. Vào thế kỷ XV TCN, trong sách đạo Hin Đu đã có điều quy định: "Không tẩm độc đầu mũi tên, không tấn công trẻ em, phụ nữ, không tấn công từ phía sau. Một chiến binh sẽ sa địa ngục nếu anh ta không làm theo bất cứ quy tắc nào như vậy”.
     

    Mỹ rải chất độc da cam xuống những cánh rừng của Việt Nam thời chiến tranh
    Ảnh: TL
     
    Hiệp định song phương Pháp - Đức ngày 27-8-1675 cấm sử dụng các phương tiện độc hại một cách nham hiểm, trong đó có các viên đạn tẩm độc. Đây là hiệp định quốc tế đầu tiên về ngăn cấm sử dụng vũ khí hóa học. Cho đến nay đã có thêm nhiều hiệp định quốc tế ngăn cấm sản xuất, tàng trữ, chuyển giao và sử dụng vũ khí hóa học, vũ khí vi trùng trong chiến tranh ra đời. Trong số đó, Nghị định thư Giơ-ne-vơ năm 1925 về cấm sử dụng hơi ngạt, khí độc, chất độc là văn bản đã tích hợp tương đối đầy đủ các ưu điểm của các văn bản được ban hành trước đó.
     
    Nước Mỹ đã tham gia ký kết Nghị định thư Giơ-ne-vơ năm 1925. Mỹ cũng là 1 trong 3 nước (Nga, Mỹ, Anh) soạn thảo ra "Quy chế Tòa án quân sự quốc tế đê xét xử và trừng phạt các tên tội phạm chiến tranh chính của các nước châu Âu thuộc phe Trục (Đức, Ý, Nhật). Mỹ đã cùng với Nga và Anh lập ra các Tòa án quân sự quốc tế để xét xử và trừng trị nghiêm khắc những tên tội phạm chiến tranh phát xít Đức và Nhật sau chiến tranh thế giới thứ hai. Vậy tại sao nước Mỹ dưới thời các Tổng thống Ken-nơ đi, Giôn-xơn và Ních-xơn lại thực hiện hành vi mà công pháp quốc tế về luật lệ và tập tục chiến tranh đã xác định là tội ác chiến tranh? Mỹ là quốc gia sản sinh ra tuyên bố nổi tiếng về nhân quyền và dân quyền được ghi trong Tuyên ngôn độc lập nước Mỹ năm 1776. Vậy tại sao chính quyền Mỹ dưới thời các Tổng thống đã nêu trên lại làm ngược lại những điều mà chính nước Mỹ đã cam kết?
     
    Lịch sử các vụ tấn công bằng vũ khí hóa học đã xảy ra trong các cuộc chiến tranh trước đây trên thế giới cho thấy, khi một bên xung đột nhận biết thất bại là điều không thể tránh khỏi, họ liền cầu viện đến vũ khí hóa học. Đó là loại vũ khí rẻ tiền và dễ sử dụng. Kẻ sử dụng vũ khí hóa học nuôi hy vọng nhanh chóng thoát ra khỏi đường hầm không lối thoát.
     
    Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 về Việt Nam, từ chính sách đứng ngoài can thiệp, Mỹ đã chuyển sang chính sách trực tiếp tiến hành chiến tranh chống lại nhân dân Việt Nam. Từ năm 1956, Mỹ đã cùng chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành cái gọi là "cuộc chiến tranh một phía”. Đó là một cuộc trả thù tắm máu đối với những người tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp. Mỹ - Diệm càng đàn áp thì nhân dân nổi dậy chống đối ngày càng đông, ngày càng quyết liệt. Đến cuối năm 1960, cục tình báo Trung ương Mỹ đã gửi báo cáo cho Tổng thống Ken-nơ-đi với nội dung: "Một thời kỳ nghiêm trọng đối với Tổng thống Ngô Đình Diệm và Việt Nam Cộng hòa ở ngay trước mặt. Chỉ trong vòng 6 tháng cuối năm 1960 tình hình an ninh ở trong nước vẫn tiếp tục ngày càng xấu đi và nay đã tới mức nghiêm trọng. Toàn bộ vùng nông thôn ở phía Nam và Tây Nam Sài Gòn cũng như một vùng phía Bắc đã nằm trong quyền kiểm soát rất lớn của Cộng sản”. Chiến tranh một phía rõ ràng là đã thất bại.
     
    Chính quyền Mỹ đương thời tiến hành cuộc chiến tranh hóa học nhằm các mục đích: Xua đuổi dân chúng sống trong các vùng tự do chạy về ẩn cư trong các vùng do chính quyền Mỹ và Sài Gòn kiểm soát; Triệt phá nguồn lương thực, vây hãm các lực lượng giải phóng trong nạn đói; Làm lộ rõ nơi ẩn nấp của các lực lượng vũ trang cách mạng để dùng không quân đánh phá tiêu diệt; Giảm bớt thương vong cho phía Mỹ.
     
    Khi bật đèn xanh cho việc tiến hành chiến tranh hóa học, chính giới Mỹ biết rõ đó là tội ác chiến tranh. Các tướng lĩnh Mỹ đã đặt các chiến dịch phun rải hóa chất bằng các tên khác nhau. Các chiến dịch phun rải thuở ban đầu được đặt tên là "Con đường bụi mờ” (Trail dust). Con đường bụi mờ là con đường bị hủy diệt mọi sự sống. Cái còn lại chỉ là tro bụi mịt mờ mà thôi. Sau đó đổi là "Diêm vương” (Hadès). Diêm vương là thần cai quản địa ngục. Các cuộc bay phun rải hóa chất là sự gieo rắc chết chóc của Diêm vương. Cuối cùng là "Bàn tay lực điền” (Ranch hand). Bàn tay lực điền với ngụ ý rằng các phi công là các thiên thần. Các máy bay phun rải hóa chất được coi là những chiếc cày thần thoại La Mã được dùng để xới, đào, lật tung đất trời của xứ sở Việt Nam. Đây không phải là lời bàn của tác giả bài viết này. Đây chính là trí tưởng tượng, là khiếu hài hước trước những chết chóc đau khổ của con người, của các tướng lĩnh diều hâu Mỹ mà giới cầm bút Mỹ đã phanh phui ra và đưa lên mặt báo sau này. Mặt khác, để tránh búa rìu dư luận, chính giới Mỹ đã áp dụng một loạt biện pháp nhằm che giấu tội ác. Việc tiến hành chiến tranh hóa học được khoác cho cái tên quá đổi hiền lành, tưởng chừng vô hại là "chương trình khai quang” (!). Với cái tên như vậy, dân chúng rất ít nghi ngờ vì khai quang, diệt cỏ là những công việc thường ngày của nhà nông. Với thủ đoạn ném đá giấu tay, Bộ trưởng Quốc phòng đương thời Mắc Na-ma-ra đã chỉ thị áp dụng một loạt biện pháp đánh lạc hướng như: Cho sơn lại các máy bay phun rải hóa chất của không lực Mỹ thành máy bay mang phù hiệu, cờ hiệu của không lực Việt Nam Cộng hòa. Trong các phi đội đi phun rải hóa chất nhất thiết phải có sĩ quan của quân lực Việt Nam Cộng hòa đi kèm. Không được đàm thoại bằng tiếng Anh trong suốt quá trình tiến hành phi vụ. Truyền đơn do các máy bay Mỹ rải xuống khắp nơi khẳng định rằng chất khai quang không độc đối với người và súc vật.
     
    Chiến tranh hóa học mà chính giới Mỹ liều lĩnh tiến hành không đem lại những kết quả như họ mong muốn. Tổn thất về sinh mạng của quân đội Mỹ và đồng minh không ngừng tăng lên. Tinh thần của quân lính họ sa sút nghiêm trọng. Mâu thuẫn nội bộ chính quyền Việt Nam Cộng hòa, mâu thuẫn giữa họ với Mỹ ngày càng sâu sắc. Vùng kiểm soát của quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn không ngừng bị thu hẹp. Mặt khác, thảm họa chiến tranh hóa học do Mỹ gây ra đối với con người, đối với môi trường sinh thái ngày càng bộc lộ rõ ràng hơn. Những thủ đoạn che giấu của chính giới Mỹ không lấp liếm được tội ác chiến tranh của họ. Sự lên tiếng phản đối tội ác chiến tranh hóa học ở trong nước Mỹ và trên thế giới ngày càng lan rộng, ngày càng gay gắt. Ngày 25-8-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Tổng thống Mỹ Ri-sác Ních-xơn tố cáo việc Mỹ đẩy mạnh các cuộc hành quân càn quét, tăng cường các cuộc đánh phá bằng máy bay B.52 và chất độc hóa học, gây thêm nhiều tội ác đối với nhân dân Việt Nam. Năm 1970, tại hội nghị Oóc-xay (Orsay) Pa-ri, giáo sư Tôn Thất Tùng đã trình bày trước các nhà khoa học thế giới rằng nhiều loại bệnh ung thư, tai nạn sinh sản, dị tật bẩm sinh, thiểu năng trí tuệ của trẻ em Việt Nam là do các chất độc hóa học của Mỹ đã phun rải xuống lãnh thổ Việt Nam gây ra. Tòa án lương tri quốc tế được lập ra theo sáng kiến của Huân tước nước Anh – Béc-tơ-răng Rút-xen, đã mở hai phiên tòa để xét xử các tội ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Phiên đầu diễn ra trong 9 ngày (từ 2 – 10-5-1967) tại thành phố Stốc-khôm (Thụy Điển). Phiên thứ hai kéo dài trong 12 ngày (từ 20-11 – 1-12-1967) tại thành phố Cô-pen-ha-ghen (Đan Mạch). Các phiên xét xử của tòa án Béc-tơ-răng Rút –xen đã có tác dụng thúc đẩy mạnh lương tri tiến bộ trên thế giới.
     
    Việc tiến hành chiến tranh hóa học ở miền Nam Việt Nam đã không xoay chuyển được cục diện chiến tranh có lợi cho Mỹ. Hơn thế nữa, nó đã làm ô danh nước Mỹ cả về mặt chính trị, ngoại giao. Khắp thế giới, Mỹ bị lên án là kẻ phạm tội ác chiến tranh lớn nhất.
     
    Cuối cùng, trước sức ép của dư luận trong và ngoài nước Mỹ, ngày 8-4-1975, Tổng thống Mỹ Lin-dơn Giôn xơn phải ban hành mệnh lệnh chấm dứt việc sử dụng các chất độc hóa học tại chiến trường Việt Nam. Chiến tranh hóa học do Mỹ gây ra tại Việt Nam là vết nhơ khó rửa sạch mà các Tổng thống Ken-nơ-đi, Ních xơn và Giôn xơn đã bôi bẩn lên lịch sử hơn 200 năm lập quốc của nước Mỹ.
     
    Luật sư Lê Đức Tiết

    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Văn Tình @ 11:12 07/08/2012
    Số lượt xem: 498
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến