DỊCH

Thông tin 2

kho tài nguyên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • VUI MỪNG CHÀO ĐÓN

    0 khách và 0 thành viên

    XEM TRUYỀN HÌNH

    Free Car 8 Cursors at www.totallyfreecursors.com

    sự kiện

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > TIN TỨC TỔNG HỢP > Kho tri thức >

    Lê Hiến Tông được sứ thần phương Bắc trầm trồ thán phục

    Diện mạo, phong thái và kiến thức của Lê Hiến Tông trong cuộc gặp các sứ thần nhà Minh đã khiến họ kinh ngạc, khâm phục và hết lời khen ngợi. 


    Lê Hiến Tông được sứ thần phương Bắc khen “nức nở”

    Trong lịch sử bang giao thời phong kiến ở nước ta, chưa có vị vua nào lại được sứ thần phương Bắc mến mộ, khen ngợi nhiều như Lê Hiến Tông, vị hoàng đế thứ 6 của nhà Hậu Lê.

    Tháng 12 năm Kỷ Mùi (1499) nhà Minh sai hai đoàn sứ, đoàn thứ nhất do Từ Ngọc dẫn đầu sang làm lễ viếng Lê Thánh Tông và đoàn sứ thứ hai do Lương Chừ, Vương Chẩn mang sắc phong cho vua Lê Hiến Tông.

    d
    Hàng linh vật chầu trong lăng Lê Hiến Tông

    Diện mạo, phong thái và kiến thức của Lê Hiến Tông trong cuộc gặp các sứ thần nhà Minh đã khiến họ kinh ngạc, khâm phục và hết lời khen ngợi.
    Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết như sau: “Ngày 23, bọn Lương Trừ, Vương Chẩn, Từ Ngọc đều tới trạm Thị Cầu. Hôm ấy, vua sai bọn Đông các đại học sĩ Đàm Văn Lễ, học sĩ Nguyễn Nhân Thiếp, Bùi Nhân tới trạm Thị Cầu cùng với bọn Lương Trừ bàn việc làm lễ. Ngày 24, Từ Ngọc đi từ Thị Cầu đến trạm Lữ Khôi, vua ngự thuyền Tiểu Quang đến trạm đón tiếp. Khi vua trở về cung, Trừ ra ngoài cửa trạm đưa tiễn, bảo Bùi Nhân rằng: "Hôm nay được thấy quốc vương tuổi đã lớn, thực là tướng thánh nhân, thực là tướng trường thọ, quả là phúc lớn của sinh linh phương Nam. Sao mà học rộng và ứng tiếp mọi việc nhanh chóng, mẫn tiệp đến thế!". Rồi cứ trầm trồ khen ngợi mãi không thôi”. 

    Đinh Tiên Hoàng là hoàng đế đầu tiên phong chức quan cho phái nữ


    Dưới chế độ phong kiến vai trò của phụ nữ không được coi trọng đúng mức, tuy nhiên có một số người bằng khả năng, tài trí của mình đã trở thành quan chức trong triều đình. Và Đinh Tiên Hoàng là hoàng đế đấu tiên phong chức quan cho một phụ nữ - bà Phạm Thị Trân. 

    Theo sách “Đả cố lục”, bà Phạm Thị Trân (926 – 976) có hiệu Huyền Nữ, quê ở đất Hồng Châu (nay thuộc tỉnh Hải Dương), là người phụ nữ nhan sắc, lại có tài múa hát nên được viên quan địa phương tiến cử với triều đình Hoa Lư. Vua Đinh Tiên Hoàng thấy bà có tài bèn phong cho chức Ưu Bà với nhiệm vụ dạy cho cung nữ và quân lính múa hát, đánh trống, gảy đàn, diễn các tích trò (gọi là hát trò nhời, ngày nay gọi là hát chèo) vì thế sau này bà được tôn là bà tổ của nghệ thuật hát chèo.

    Việc phong chức quan cho một phụ nữ xuất thân bình dân không chỉ cho thấy sự coi trọng của Đinh Tiên Hoàng với phái đẹp mà còn thể hiện sự thông minh của vua khi biết sử dụng nghệ thuật ca hát, diễn xướng phục vụ tinh thần quân đội. Vì ngoài mục đích giải trí, các hoạt động đó đã cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân sĩ rất hiệu quả. 

    Đặc biệt với chủ trương của vua, bà Phạm Thị Trân đã sáng tạo ra phép đánh trống rất hào hùng, mạnh mẽ vừa dùng khi biểu diễn, vừa dùng trong chiến trận mà đến nay vẫn còn lưu truyền, như tiếng trống rước: “Chinh tùng chinh, chinh tùng chinh, bất diệt thù hề, bất nguyện sinh” (Đi chiến đấu, đi chiến đấu, không diệt được thù không thèm sống) hoặc tiếng trống chèo: “Nam chinh sát Bắc tướng, diệt Bắc tướng. Nam thiên sinh vương, Nam thiên sinh vương thánh, thánh Đinh vương xưng đế” (Quân Nam giết tướng Bắc. Trời Nam sinh vương, trời Nam sinh vương thánh, thánh Đinh vương xưng đế).

    Vua Khải Định từng muốn theo quy chế “ngày làm việc 8 giờ”

    Từ khi lên ngôi và trong suốt thời gian cai trị của mình từ năm 1916 đến 1925, vua Khải Định đã ban bố nhiều chiếu dụ với nội dung học theo phương Tây một số quy tắc, chế định trong đó có quy chế “ngày làm việc 8 giờ”, tuy nhiên việc đó cũng chỉ ở mức tương đối. 

    Sách Khải Định chính yếu sơ tập cho biết vào tháng 9 năm Nhâm Tuất (1922), trong một buổi thiết triều, vua nói với quần thần rằng: “Trẫm quan sát thấy người Tây làm việc mỗi ngày tổng cộng 8 giờ đồng hồ. Quan lại nước ta tất nhiên chẳng theo được như thế, nhưng mỗi ngày cũng nên ngồi ở công sở cho được 6 giờ đồng hồ để làm công vụ, dẫu không có việc gì cũng nên giữ như thế cho thành thói quen, cũng giống như đứa trẻ tập đi, cứ bước đi nhiều thì lâu dần mới trở thành tự nhiên. Như bản thân trẫm xử lý công việc chẳng lúc nào nhàn rỗi; giả như công việc đã vãn thì không xem phiến chương cũng lôi sách vở ra đọc, không đọc sách vở thì lại xem xét các máy móc. Tóm lại là không bao giờ để thời gian trôi suông một cách lãng phí”.

    Vua đem vợ thưởng cho bề tôi

    Câu chuyện khó tin này liên quan đến hai nhân vật nổi tiếng trong lịch sử nước ta, đó là Lý Chiêu Hoàng, vị vua cuối cùng của nhà Lý và Trần Thái Tông, hoàng đế đầu tiên của triều Trần.

    Bằng âm mưu và sự khéo léo của mình, Trần Thủ Độ đã tạo ra cuộc hôn nhân giữa cháu mình và nữ hoàng, sau đó là chuyện Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh vào tháng 12 năm Ất Dậu (1225). Khi lên ngôi, đầu năm Bính Tuất (1226) Trần Cảnh (tức Trần Thái Tông) sách phong Chiêu Hoàng làm hoàng hậu Chiêu Thánh nhưng đến tháng giêng năm Đinh Dậu (1237) Hoàng hậu Chiêu Thánh bị phế làm công chúa vì lý do “không có con”. Chị của Chiêu Thánh là công chúa Thuận Thiên, vợ của Hoài Vương Trần Liễu (anh trai Trần Thái Tông) khi đó có thai 3 tháng được lập làm hoàng hậu Thuận Thiên:

    “Lập công chúa Thuận Thiên họ Lý, là vợ của Hoài Vương Liễu, anh vua, làm hoàng hậu Thuận Thiên. Giáng Chiêu Thánh làm công chúa” (Đại Việt sử ký toàn thư).

    Chiêu Thánh sống trong cô đơn buồn tủi tới 20 năm. Đến đầu năm Mậu Ngọ (1258), sau chiến thắng chống Nguyên Mông xâm lược lần thứ nhất, Trần Thái Tông xuống chiếu gả vợ cũ của mình cho Lê Tần (tức Lê Phụ Trần), một vị tướng có công lớn trong cuộc kháng chiến chống giặc vừa qua. Vậy là người vợ bị ruồng bỏ lại trở thành “phần thưởng” mà người chồng ban cho bề tôi của mình.

    Hành động này về sau bị sử sách phê phán gay gắt: “Vua tôi nhà Trần coi thường đạo vợ chồng lại thấy ở đây lần nữa. (Đại Việt sử ký toàn thư). Còn sách Việt sử tiêu án viết rằng: “Vua Thái Tông làm hại nhân luân, lấy bà Thuận Thiên, Phụ Trần cũng thông gian với bà Chiêu Thánh, mình cướp vợ anh, thì người khác lại cướp vợ mình; tuy là tự ý đem cho, nhưng cũng là trời làm cho tâm thần tối tăm mà làm việc càn bậy đó, tạo hóa khéo thật”…

    Mạc Kính Chỉ bị vợ “cắm sừng”


    Mạc Kính Chỉ là vị vua đầu tiên của nhà Mạc thời suy vong. Ông là con của hoàng thân Mạc Kính Điển và là cháu nội của vua Mạc Hiến Tông (Mạc Phúc Hải). Tháng 12 năm Nhâm Thìn (1592) khi nghe tin vua Mạc Mậu Hợp bị quân nhà Lê bắt được và giết chết, ông liền tự xưng đế ở đất Nam Giản (nay thuộc huyện Chí Linh, Hải Dương) và lấy niên hiệu là Bảo Định. Làm vua chưa đầy 2 tháng thì Mạc Kính Chỉ bị bắt ở huyện Hoành Bồ, xứ An Quảng (Quảng Ninh ngày nay) khi vừa mới đổi niên hiệu là Khang Hựu được ít ngày.

    Ngoài “kỷ lục” là vị vua Mạc ở ngôi ngắn nhất thì điều hay được nhắc đến khi nói về Mạc Kính Chỉ là hai câu chuyện đáng xấu hổ của ông khi còn là một hoàng thân.

    Thứ nhất đó là chuyện Mạc Kính Chỉ “loạn luân” với vợ của cha mình, sách Đại Việt thông sử viết: “Mạc Kính Chỉ là con cả của Kính Điển, mới đầu được phong là Hùng Lễ Vương, vì tư thông với người thiếp của cha nên bị giáng xuống làm thứ dân, sau đó lại khôi phục, phong là Đường An Vương”. 

    Sách Đại Việt sử ký toàn thư thì cho biết sự việc này xảy ra vào đầu năm Giáp Tý (1564) nhưng chép khác một số điểm: “Bấy giờ con trưởng của Kính Điển là Đoan Hùng Vương Kính Chỉ ngầm tư thông với vỡ lẽ Kính Điển, việc phát giác phải giáng làm thứ dân; lấy con thứ là Kính Phu làm Đường An Vương, giao cho binh quyền. Đến khi Kính Điển chết, họ Mạc lại cho Kính Chỉ làm Hùng Lễ Công nhưng không cho binh quyền”.

    Chuyện thứ hai và việc Mạc Kính Chỉ bị vợ “cắm sừng” vào đầu năm Canh Dần (1590): “Nhà Trung Nghĩa tướng quân Hoằng quận công của Mạc chúa chứa giấu phu nhân của Đường An Vương là Mạc Kính Chỉ, việc phát giác, Hoằng quận công và phu nhân đều bị giết” (Đại Việt sử ký toàn thư). Sách Lê triều thông sử cho biết rõ hơn: “Vợ của ngụy Đường An Vương Mạc Kính Chỉ tư thông với viên tướng dưới trướng là Hoằng quận công rồi ẩn trốn tại nhà quận công, việc vỡ lở, đều bị giết”.

    Lê Thái Dũng

    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Văn Tình @ 22:24 30/06/2011
    Số lượt xem: 454
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến