DỊCH

Thông tin 2

kho tài nguyên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • VUI MỪNG CHÀO ĐÓN

    0 khách và 0 thành viên

    XEM TRUYỀN HÌNH

    Free Car 8 Cursors at www.totallyfreecursors.com

    sự kiện

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > TIN TỨC TỔNG HỢP > Tin trong nước >

    Chiến thắng vĩ đại Mùa Xuân 1975 Giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc

    Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam là một trong những chiến công lớn của thế kỷ XX. Đối với dân tộc Việt Nam, đây là bản anh hùng ca bất hủ của chiến tranh nhân dân trong thời đại Hồ Chí Minh. Năm tháng trôi qua càng khẳng định và làm nổi bật tầm vóc lịch sử và ý nghĩa thời đại của thắng lợi này.

    Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Tiếp đó, dân tộc Việt Nam phải tiến hành ngay cuộc chiến tranh cách mạng kéo dài 30 năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

    Bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975, nhân dân ta đã kết thúc vẻ vang cuộc chiến tranh cách mạng suốt 30 năm, đánh thắng hoàn toàn các cuộc chiến tranh xâm lược của hai đế quốc lớn, giải phóng hoàn toàn đất nước.

    Năm 1973, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, Trung ương Đảng đã có nhiều Hội nghị bàn các vấn đề cụ thể của cách mạng hai miền Nam-Bắc: Hội nghị lần thứ 21 (7/1973) bàn về phương hướng và nhiệm vụ cách mạng miền Nam, Hội nghị lần thứ 22 (12/1973) bàn về khôi phục kinh tế miền Bắc, Hội nghị lần thứ 23 (12/1974) về tăng cường sự lãnh đạo và nâng cao sức chiến đấu của Đảng... Miền Bắc tiến hành khôi phục kinh tế nhằm bảo đảm nhu cầu nâng cao đời sống nhân dân miền Bắc và chi viện có hiệu quả về sức người, sức của cho cách mạng miền Nam. Nắm vững quan điểm, chủ trương của Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 21, quân và dân miền Nam tiếp tục sử dụng bạo lực cách mạng, giữ vững thế tiến công, đẩy chế độ ngụy quyền Sài Gòn vào thế bị động, lúng túng.

    Nhân dân ta đã kết thúc vẻ vang cuộc chiến tranh cách mạng suốt 30 năm, đánh thắng hoàn toàn các cuộc chiến tranh xâm lược của hai đế quốc lớn, giải phóng hoàn toàn đất nước. 

    Từ giữa năm 1974, so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam có lợi cho cách mạng, thời cơ cách mạng đã xuất hiện. Bộ Chính trị họp các hội nghị vào tháng 10/1974 và tháng 1/1975 bàn kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm. Bộ Chính trị nhận định: “Chúng ta phải cố gắng cao nhất để thắng gọn trong năm 1975. Điều đó là một khả năng hiện thực” (Văn kiện Đảng toàn tập, t.35, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2004, tr.196).

    Đầu năm 1975, sau chiến thắng Phước Long, với nỗ lực và quyết tâm rất cao, quân và dân ta đã tiến hành liên tục 3 chiến dịch lớn của cuộc Tổng tiến công gồm Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Huế-Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh. Mùa xuân năm 1975, với khí thế tiến công như vũ bão, quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tiêu diệt và làm tan rã lực lượng lớn của địch, giải phóng Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng; giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

     

    Chiến thắng vĩ đại Mùa Xuân 1975 Giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc - Ảnh 1

     

    Bộ đội ta tiến vào giải phóng Xuân Lộc, cửa ngõ của Sài Gòn, ngày 21/4/1975. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

    Chiến dịch Tây Nguyên (từ 4/3 đến 24/3/1975): Bộ Tổng tư lệnh quyết định chọn Tây Nguyên làm địa bàn đột phá, mở đầu trận quyết chiến chiến lược vì Tây Nguyên là vùng cao nguyên rộng lớn có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng. Trong Chiến dịch Tây Nguyên, ta lại chọn Buôn Ma Thuột là trận đột phá chiến lược. Bởi vì, thắng lợi ở Buôn Ma Thuột có khả năng tạo ra sự chuyển biến về chiến dịch và sự rung động về chiến lược.

    Ngày 4/3/1975, chiến dịch Tây Nguyên chính thức bắt đầu. 2 giờ 03 phút ngày 10/3, quân ta bắt đầu tiến công Buôn Ma Thuột. Đúng 11 giờ trưa ngày 11/3, cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã được kéo lên trên cột cờ của Sở chỉ huy Sư đoàn 23 ngụy, quân ta làm chủ hoàn toàn thị xã Buôn Ma Thuột, hoàn thành trận đánh then chốt mở đầu thắng lợi chiến dịch Tây Nguyên.

    Ngày 24/3, quân ta tiến công Củng Sơn, tiêu diệt và bắt toàn bộ quân địch ở đây, hoàn thành trận then chốt thứ ba, kết thúc chiến dịch Tây Nguyên. Sau 20 ngày đêm chiến đấu quyết liệt trong chiến dịch Tây Nguyên, quân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 7 vạn quân địch, xoá sổ quân đoàn 2 và quân khu 2 ngụy, làm tan rã một tập đoàn phòng ngự lớn, giải phóng một địa bàn rất quan trọng, dẫn đến sự suy sụp và tan rã về chiến lược của địch, mở ra thời cơ của cuộc tổng tiến công chiến lược, tạo điều kiện cho chiến dịch Huế-Đà Nẵng, mở ra bước ngoặt quyết định cho thời kỳ toàn thắng của cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

    Chiến dịch Huế-Đà Nẵng (từ 21/3 đến 29/3/1975): Với chiến thắng oanh liệt của Chiến dịch Tây Nguyên, cuộc chiến tranh Cách mạng đã bước sang một giai đoạn mới, từ tiến công chiến lược phát triển thành tổng tiến công chiến lược, tạo thời cơ chín muồi hình thành chiến dịch tiến công Huế-Đà Nẵng. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương hạ quyết tâm: “Tiêu diệt quân đoàn 1 địch, không cho chúng rút về Sài Gòn, để cùng với thắng lợi của Tây Nguyên tạo nên chuyển biến lớn về so sánh lực lượng chiến lược có lợi cho ta, tạo điều kiện giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam”.

    Thực hiện quyết tâm trên, ngày 25/3/1975, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Chiến dịch Huế-Đà Nẵng với mật danh “Mặt trận 475”. Chiến dịch Huế-Đà Nẵng là hoạt động trọng tâm của quân ta tiếp sau chiến thắng Tây Nguyên. Chiến trường được phân thành hai khu vực: Trị Thiên-Huế và Quảng Nam-Đà Nẵng, trong đó mục tiêu chủ yếu là Huế-Đà Nẵng.

    Ngày 21/3/1975, chiến dịch Huế-Đà Nẵng bắt đầu: Phát triển thế tiến công đã tạo được trước đó; từ các hướng bắc, tây, nam, quân ta đồng loạt tiến công, hình thành nhiều mũi bao vây địch trong thành phố Huế. Quân ta chia làm hai hướng: Hướng Nam Huế và hướng Bắc Huế đồng loạt tiến công quân địch.

    Thế trận của địch ở Thừa Thiên-Huế bị vỡ, và trước áp lực tiến công từ các hướng của quân ta, địch càng lúng túng, trong cơn hoảng loạn chúng chỉ còn một lối thoát duy nhất là chạy ra biển theo cửa Thuận An và Tư Hiền. Pháo binh ta một mặt khống chế chặt cửa Thuận An, kết hợp với bộ đội đặc công thả mìn không cho tàu địch vào đón quân rút chạy.

    Ngày 25/3, quân ta tiến công địch ở khu cảng Tân Mỹ-Thuận An, tiêu diệt và làm tan rã hầu hết địch dồn về đây. Cùng ngày các mũi tiến công khác của quân chủ lực đã cùng lực lượng vũ trang địa phương tiến vào thành phố, kết hợp với quần chúng nổi dậy, giải phóng cố đô Huế. Trưa ngày 26/3, cờ Cách mạng đã tung bay trên cột cờ trước Ngọ Môn, kết thúc vẻ vang trận đánh Thừa Thiên-Huế. 

     
     

    Sau bốn ngày chiến đấu quân và dân ta đã hoàn toàn tiêu diệt tập đoàn phòng ngự Thừa Thiên-Huế. Thắng lợi vang dội này là một đòn phủ đầu chí mạng giáng vào kế hoạch phòng ngự co cụm chiến lược mới của địch ở vùng đồng bằng ven biển miền Trung.

    Chiến thắng vĩ đại Mùa Xuân 1975 Giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc - Ảnh 2

    Đoàn quân giải phóng trên quốc lộ I từ Nha Trang tiến về giải phóng miền Nam. (Ảnh: Lâm Hồng Long/TTXVN)

    Từ ngày 26/3 đến 29/3/1975, cuộc tiến công Đà Nẵng của quân ta diễn ra hết sức khẩn trương, nhanh chóng. Ngày 27/3, quân ta trên ba hướng tiến quân về Đà Nẵng không kể ngày đêm. Các lực lượng vũ trang địa phương gấp rút tiến về thành phố cùng với lực lượng chính trị của quần chúng trong và ven thành phố tiến công địch. Bị bao vây chặt, quân địch ở Đà Nẵng trở nên hỗn loạn, kế hoạch co cụm lớn bị phá vỡ. Ngày 28 và 29/3, ta tiến công căn cứ quân sự liên hợp lớn của địch ở Đà Nẵng.

    Cuộc tổng công kích đã diễn ra trên các hướng Bắc Đà Nẵng, Tây Nam Đà Nẵng, Nam và Đông Nam Đà Nẵng. Đến 15 giờ ngày 29/3, quân ta từ các hướng tiến công đã gặp nhau ở trung tâm thành phố, chiếm lĩnh xong toàn bộ căn cứ liên hợp Đà Nẵng-bán đảo Sơn Trà. Trận tiến công và nổi dậy giải phóng Đà Nẵng đã kết thúc toàn thắng. Hơn 10 vạn quân địch trong đó có cơ quan bộ tư lệnh quân đoàn 1 ngụy đã bị tiêu diệt và tan rã hoàn toàn. Căn cứ quân sự liên hợp mạnh nhất của địch ở miền Trung đã hoàn toàn bị đập tan trong một cuộc tiến công và nổi dậy thần tốc 32 giờ. Ta thu toàn bộ vũ khí và phương tiện chiến tranh.

    Chiến dịch tiến công Huế-Đà Nẵng đã giành thắng lợi một cách nhanh chóng, rực rỡ: Quân ta đã đập tan hệ thống phòng thủ kiên cố của địch ở quân khu 1, loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 120.000 tên, trong đó bắt tại trận 55.000 tên, với 7.000 sĩ quan (220 cấp tá), làm tan rã 137.000 phòng vệ dân sự; Thu toàn bộ vũ khí quân trang, đạn dược, nhiên liệu). Giải phóng hoàn toàn 5 tỉnh với hơn 2 triệu dân, trong đó có 2 thành phố lớn là Huế và Đà Nẵng. Thắng lợi của chiến dịch tiến công Huế-Đà Nẵng có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng. Cùng với thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên, nó đã làm thay đổi hẳn cục diện chiến tranh, tạo ra những điều kiện rất cơ bản, góp phần giải phóng Sài Gòn và toàn miền Nam.

    Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (từ 9/4 đến 30/4/1975): Ngày 31/3/1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã họp nhận định: Thời cơ chiến lược tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa vào sào huyệt của địch đã hoàn toàn chín muồi. Từ giờ phút này trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta bắt đầu, nhằm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và thực hiện hoà bình thống nhất Tổ quốc”.

    Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Phải nắm vững hơn nữa thời cơ chiến lược, với tư tưởng chỉ đạo thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, có quyết tâm lớn thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4, không để chậm”. Để thực hiện quyết tâm đó, Bộ Chính trị quyết định tập trung lực lượng chỉ đạo giành thắng lợi trong trận quyết chiến lịch sử này. Chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định được mang tên là “Chiến dịch Hồ Chí Minh”.

    Các chiến dịch và các hoạt động tạo thế chuẩn bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh được tiến hành theo các hướng: Hướng Đông, hướng Tây Nam, hướng Đông và Đông Nam, hướng Tây và Tây Nam, hướng Bắc và Tây Bắc. Tối 28/4, Bộ Tư lệnh Chiến dịch thông báo tình hình và lệnh, các hướng quân ta tiếp tục phát triển tiến công để đảm bảo sáng 29/4 toàn mặt trận nhất loạt thực hiện tổng tấn công vào thành phố Sài Gòn theo đúng kế hoạch đã định.

    Ngày 30/4/1975: Quân ta thống nhất hiệp đồng các cánh, các hướng tổng công kích vào nội thành, chiếm lĩnh các mục tiêu chiến lược. 10 giờ ngày 30/4/1975, trung đoàn 66 bộ binh, cùng với xe tăng của lữ đoàn 203 thuộc sư đoàn 304, Quân đoàn 2 tiến công thọc sâu, đập tan toàn bộ lực lượng phòng ngự của quân ngụy vượt qua cầu Sài Gòn. 10 giờ 45’, cán bộ, chiến sĩ ta bắt toàn bộ nội các ngụy quyền Sài Gòn, buộc Dương Văn Minh phải lên đài phát thanh Sài Gòn tuyên bố đầu hàng cách mạng không điều kiện. 11 giờ 30 phút, ngày 30/4/1975, ta kéo cờ chiến thắng trên nóc dinh Độc Lập.

    10 giờ 45’, cán bộ, chiến sĩ ta bắt toàn bộ nội các ngụy quyền Sài Gòn, buộc Dương Văn Minh phải lên đài phát thanh Sài Gòn tuyên bố đầu hàng cách mạng không điều kiện.

    Trên đà chiến thắng, từ ngày 30/4/1975, đồng bào và các chiến sĩ các tỉnh Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long đã đồng loạt tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, lần lượt giải phóng các tỉnh còn lại. Ngày 1-5-1975, toàn bộ lãnh thổ trên đất liền miền Nam Việt Nam đã hoàn toàn giải phóng.

    Từ 30/4 đến 1/5/1975, đồng bào các tỉnh Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Long An, Hậu Nghĩa, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre, Kiến Tường, Kiến Phong, An Giang, Châu Đốc, Sa Đéc, Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ, Chương Thiện, Ba Xuyên, Bạc Liêu, Rạch Giá, Cà Mau đã đứng lên giành quyền làm chủ.

    Cùng với các tỉnh ở đất liền, ngày 30/4/1975, các chiến sĩ yêu nước bị địch giam giữ ở đảo Côn Sơn đã nổi dậy, làm chủ hoàn toàn đảo này. Ngày 2/5/1975, Quân giải phóng phối hợp cùng nhân dân tiến công và nổi dậy, giành quyền làm chủ hoàn toàn đảo Phú Quốc. Trước đó, trong tháng 4-1975, ta giải phóng các đảo dọc bờ biển Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ trong quần đảo Trường Sa; quân giải phóng tiến công và giải phóng các đảo do quân ngụy chiếm giữ: đảo Song Tử Tây, đảo Sơn Ca, đảo Nam Yết, đảo Sinh Tồn, đảo Trường Sa và đảo An Bang.

    Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã tiêu diệt, bắt sống, làm tan rã hơn 40 vạn tên địch, 10 sư đoàn chủ lực và tổng trù bị, 12 chiến đoàn thiết giáp, 5 sư đoàn không quân; đánh sụp toàn bộ ngụy quyền Trung ương và địa phương gồm 22 vạn tên, giải phóng Sài Gòn và toàn bộ các tỉnh còn lại, kết thúc rất oanh liệt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta.

    Chiến dịch Hồ Chí Minh là đỉnh cao của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975. Thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh là thắng lợi vĩ đại nhất trọn vẹn nhất, kết thúc 30 năm chiến tranh lâu dài, gian khổ chống ngoại xâm của dân tộc ta, mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do, thống nhất và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước ta.

    Văn kiện Đảng nhận định: “Thắng lợi vĩ đại của cuộc Tổng tiến công Mùa Xuân 1975, đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam thân yêu, kết thúc vẻ vang cuộc chiến tranh yêu nước lâu dài nhất, khó khăn nhất và vĩ đại nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta” (Văn kiện Đảng toàn tập, t.35, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2004, tr.206).

     

    Chiến thắng vĩ đại Mùa Xuân 1975 Giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc - Ảnh 3

     

    Nhân dân Sài Gòn đón chào quân Giải phóng tiến vào giải phóng thành phố, ngày 30/4/1975. (Ảnh: Hứa Kiểm/TTXVN)

    Chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch Mậu Thân năm 1968, chiến dịch Hồ Chí Minh được xem là những trận đánh để đời của nhà thiên tài quân sự, Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

    Từ chiến thắng Điện Biên chấn động địa cầu…

    Xuất thân là một giáo viên dạy lịch sử, tuy nhiên với tố chất của một thiên tài quân sự, Võ Nguyên Giáp đã trở thành vị tướng huyền thoại của nhân dân Việt Nam cũng như của cả thế giới.

     Không trải qua bất kỳ trường lớp quân sự nào cũng không phải trải qua các cấp bậc quân hàm trong quân đội, Võ Nguyên Giáp được thụ phong quân hàm Đại tướng vào ngày 28/05/1948 và trở thành vị Tổng tư lệnh đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam. Trong suốt cuộc đời binh nghiệp của mình, ông đã chỉ huy hàng trăm trận đánh lớn góp phần tạo ra những bước ngoặt lịch sử đối với công cuộc giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của thực dân-đế quốc.

    Tên tuổi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp bắt đầu trở nên nổi tiếng trong chiến dịch Việt Bắc năm 1947, lúc đó ông với tư cách là Tư lệnh chiến dịch đã đập tan chiến dịch đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp vào khu vực Bắc Cạn, nơi mà Pháp cho là “Thủ đô mới” của Việt Minh.

    Dấu ấn Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong những chiến công chói lọi của dân tộc

    Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp với các anh hùng chiến sĩ miền Nam tại khu vườn Phủ Chủ tịch ngày 15/11/1965

    Đến thắng lợi của chiến dịch biên giới năm 1950 dưới sự chỉ huy của Đại tướng đã góp phần quan trọng khai thông thế bế tắc cho căn cứ địa Việt Bắc, khai thông biên giới cũng như mở rộng căn cứ và thử nghiệm các chiến thuật cho quân đội nhân dân Việt Nam vốn thiếu kinh nghiệm trong các trận đánh lớn.

    Trong cuộc đời binh nghiệp của ông, trận đánh mang tính lịch sử đối với đất nước cũng như đối với tên tuổi của ông chính là Điện Biên Phủ. Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 chính là chìa khóa cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp 1945-1954.

    Chiến dịch Điện Biên Phủ được xem là một chiến thắng chấn động địa cầu. Lần đầu tiên trên thế giới quân đội của một nước thuộc địa nhỏ bé tại châu Á đã đánh bại quân đội một cường quốc tại châu Âu, trận đánh đã giáng một đòn chí mạng vào thế giới phương Tây cũng như nỗ lực duy trì thuộc địa Đông Dương của Pháp.

    Đối với Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phải đứng trước những sự lựa chọn khó khăn nhất trong cuộc đời binh nghiệp của ông. Sau khi quan sát trận địa trước giờ G, Đại tướng đã quyết định thay đổi kế hoạch tác chiến từ “đánh  nhanh thắng nhanh sang đánh chậm thắng chắc”.

    Dấu ấn Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong những chiến công chói lọi của dân tộc

    Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Quân ủy Trung ương theo dõi, chỉ đạo chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn (4/1975) 

    Dưới sự chỉ huy tài ba của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng với ý chí quyết tâm của toàn quân, đồng lòng chung sức của nhân dân, cứ điểm Điện Biên Phủ, “pháo đài bất khả chiến bại” của thực dân Pháp đã bị đánh bại sau 56 ngày đêm.

    Chiến thắng tại Điện Biên Phủ đã đưa tên tuổi của Đại tướng bay xa khắp năm châu, sau chiến thắng lịch sử này thế giới đã vinh danh ông  như là một trong những thiên tài quân sự của thế giới. Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp tục thể hiện tài  năng quân sự lỗi lạc của mình bằng những trận đánh và quyết định lịch sử.

    Đến đại thắng Mùa xuân năm 1975

    Năm 1959, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định thành lập đoàn 559 mở đường mòn dọc dãy Trường Sơn để tiếp ứng phong trào cách mạng miền Nam. Tuyến đường mòn chiến lược Hồ Chí Minh đã trở thành “huyết mạch” cực kỳ quan trọng cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam.

    Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 được xem là chiến dịch lớn nhất, quan trọng nhất đối với cuộc đời binh nghiệp của ông cũng như đối với công cuộc kháng chiến chống Mỹ giải phóng miền Nam của đất nước.

    Dấu ấn Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong những chiến công chói lọi của dân tộc

    Đại tướng thăm các lão dân quân Hoằng Hóa, Thanh Hóa - đơn vị đã bắn rơi máy bay Mỹ bằng súng trường

    Sau Hiệp định Paris, Mỹ rút quân về nước, tình hình chiến trường miền Nam đã có những diễn biến có lợi cho công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đề xuất và ra quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn-Gia Định.

    Bước vào mùa xuân năm 1975, thấm nhuần tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị giải phóng miền Nam, trước hết là giải phóng Tây Nguyên, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có sự chỉ đạo chiến lược hết sức sắc bén. Bằng cách giăng địch ra hai đầu Nam - Bắc chiến tuyến và kìm địch ở Huế, Đà Nẵng và Sài Gòn, Quân đoàn 2 kìm giữ địch ở Huế - Đà Nẵng, Quân đoàn 4 đứng chân ở Đồng Nai - Bắc Sài Gòn, kìm giữ địch ở Sài Gòn và để địch sơ hở Tây Nguyên. Khi giữ chặt được sư đoàn dù và sư đoàn thủy quân lục chiến Quân đội Sài Gòn ở hai đầu Nam - Bắc, đó là thời cơ để tiến công địch ở Tây Nguyên. Điều hay hơn nữa, để phá vỡ Tây Nguyên nhanh chóng, chuyển hóa cả thế và lực, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định tăng thêm lực lượng cho Tây Nguyên 2 sư đoàn. Như vậy, từ chỗ chỉ có 2 sư đoàn, đến mùa Xuân 1975, Tây Nguyên đã có tới 4 sư đoàn, trở thành quả đấm chủ lực đánh mạnh vào đối phương.

    Dấu ấn Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong những chiến công chói lọi của dân tộc

    Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm đơn vị nữ thông tin và quân y (5/1973)

    Chiến dịch Tây Nguyên mở màn với trận then chốt quyết định ở Buôn Ma Thuột thắng lợi, qua đó thực hiện xuất sắc nhiệm vụ mà Bộ Chính trị và Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao cho. Tiếp đến, Quân đội nhân dân Việt Nam đánh bại sự phản kích của địch, tiêu diệt Sư đoàn 23 dẫn đến sự bùng nổ về chiến thuật và tạo ra phản ứng dây chuyền, làm cho địch ở Pleiku và Kon Tum chưa bị đánh đã tháo chạy. Phản ứng dây chuyền cũng tạo ra sự đột biến về chiến dịch. Lực lượng địch ở Tây Nguyên bị phá vỡ, tạo ra một cục diện chiến tranh mới, đẩy chúng vào thế hỗn loạn về chiến lược và suy sụp nhanh chóng về tinh thần.

    Dấu ấn Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong những chiến công chói lọi của dân tộc

     Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm và chúc Tết cán bộ, chiến sĩ Đoàn không quân Sao Đỏ (1/1975)

    Ngay khi chuẩn bị giải phóng Tây Nguyên, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tính toán đến khả năng: Nếu địch bị thua đau ở Tây Nguyên, chúng có thể sẽ rút chạy về co cụm ở đồng bằng. Thực tế lịch sử diễn ra đúng như vậy. Nắm bắt thời cơ đó, chúng ta đã chủ động mở tiếp chiến dịch Huế, chiến dịch Đà Nẵng và cuối cùng là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử với thế đánh địch “như chẻ tre”.

    Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ huy các mũi tiến công của Quân đội nhân dân Việt Nam bằng mệnh lệnh: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng phút, từng giờ; xốc tới mặt trận; giải phóng miền Nam; thống nhất đất nước!”. Mệnh lệnh của Đại tướng vừa là tiếng kèn xung trận vừa là kết tinh của một tư duy quân sự thiên tài, qua đó góp phần quan trọng vào ngày toàn thắng 30/4/1975.


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Văn Tình @ 07:55 30/04/2017
    Số lượt xem: 334
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar

    Chiến thắng vĩ đại Mùa Xuân 1975 Giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc

     
    Gửi ý kiến